• Tidak ada hasil yang ditemukan

ĐẶC ĐIỂ

N/A
N/A
Protected

Academic year: 2024

Membagikan "ĐẶC ĐIỂ"

Copied!
8
0
0

Teks penuh

(1)

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN CÓ RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI MỌC LỆCH ĐƯỢC PHẪU THUẬT BẰNG

KỸ THUẬT CẮT DỌC THÂN RĂNG, TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ, NĂM 2017-2018

Lâm Nhựt Tân*, Trần Thị Phương Đan, Nguyễn Lê Diễm Quỳnh, Phạm Hải Đăng Trường Đại học Y Dược cần Thơ

*Email:[email protected]

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật nhổ răng khôn lệch-ngầm là phẫu thuật chiếm tỷ lệ cao nhất, với nhiều quan điểm điều trị khác nhau. Mục tiêu: khảo sát đặc điểm lâm sàng, x quang và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân có răng khôn hàm dưới mọc lệch được phẫu thuật bằng kỹ thuật cắt dọc thân răng. Đối tượng và phương pháp: 54 răng khôn hàm dưới phẫu thuật theo phương pháp cắt dọc thân răng và theo dõi hậu phẫu với phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả: Có 44,4% chân răng khôn hàm dưới có liên hệ với ống răng dưới. Sau phẫu thuật, sưng mặt theo chiều ngang (AC) và chiều dọc (BE) ở ngày 1 lớn hơn so với trước phẫu thuật lần lượt là 2,3±0,2 (mm), 1,9±0,2 (mm), tại ngày 3 là 1,5±0,2 (mm) và 1,2±0,2 (mm). Sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê và hầu như trở lại bình thường vào ngày cắt chỉ. Ngày 1 (98,1%) có cảm giác đau, mức độ đau giảm dần, ngày cắt chỉ có 85,2% bệnh nhân hết đau. Có 3,7% trường hợp có tình trạng khít hàm tạm thời. Không ghi nhận tình trạng dị cảm, viêm ổ răng sau phẫu thuật. Kết luận: phương pháp phẫu thuật cắt dọc thân răng nên được áp dụng trên lâm sàng vì nó mang lại kết quả sau phẫu thuật tốt.

Từ khóa: răng khôn hàm dưới, kỹ thuật cắt dọc thân răng, kết quả điều trị.

ABSTRACT

THE CLINICAL, X-RAY CHARACTERISTICS AND TREATMENT RESULTS OF VERTICAL SECTIONING TECHNIQUE FOR IMPACTED LOWER THIRD

MOLAR SURGERY AT CANTHO UNIVERSITY OF MEDICINE AND PHARMACY, FROM 2017 TO 2018

Lam Nhut Tan, Tran Thi Phuong Dan, Nguyen Le Diem Quynh, Pham Hai Dăag Cantho University of Medicine and Pharmacy

Background: Extraction impacted third molars is one of the most typical dental surgeries with many different opinions of treatment. Objectives: We did this cross sectional research to figure out the clinical, X-ray characteristics and to evaluate the results of the vertical sectioning technique. Materials and method: A cross sectional descriptive study was carried out of 54 impacted lower third molars, who were extracted and assess the post surgery results. Results: 44,4% roots of the lower third molars were very nearby the submandibular fossa. For after surgery, the AC and BE index at day 1 (2,3±0,2 (mm) and 1,9±0,2 (mm) respectively) were higher than those at the 3rd day, with were 1,5±0,2 (mm) and 1,2±0,2 (mm) and back to normal status at the 7th day. This difference is significantly statistic. 98, 1% had permanent trismus at the 1st day. The level of pain decreased from the 1st to the 7th day, and 85, 2% patients had no pain at the last surveyed day. No nerve injuries or alveolitis were found in our research. Conclusion: This technique is suggested to apply in clinical practice because of its benefits.

Keyword: lower third molar, vertical sectioning technique, treatment results.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

(2)

Ngày nay có nhiều quan điểm điều trị khác nhau đối với răng khôn hàm dưới (RKHD) lệch-ngầm. Trên thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến tai biến của phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới. Phương pháp cắt dọc thân răng là phương pháp đơn giản và được đề nghị khi nhổ răng khôn hàm dưới mọc thẳng hoặc nghiêng gần [11]. Để có thể nhận định rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân có răng khôn hàm dưới mọc lệch bằng kỹ thuật cắt dọc thân răng tại trường Đại học Y Dược Cần Thơ, năm 2017-2018” với 2 tiêu sau:

1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và x quang ở bệnh nhân phẫu thuật răng khôn hàm dưới.

2. Đánh giá kết quả phẫu thuật răng khôn hàm dưới bằng phương pháp cắt dọc thân răng, tại trường Đại học Y Dược Cần thơ, năm 2017-2018.

II.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

* Tiêu chuẩn chọn mẫu

- Tuổi: từ 18 tuổi trở lên. Phẫu thuật RKHD có hai chân, mọc lệch gần từ 100-800.

- Sức khỏe toàn thân và xét nghiệm cận lâm sàng trong giới hạn bình thường cho phép tiến hành phẫu thuật.

- Bệnh nhân đồng ý phẫu thuật và tham gia nghiên cứu.

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không có khả năng hoặc không phối hợp được để trả lời câu hỏi của người nghiên cứu.

- Bệnh nhân không tham gia tái khám cũng như không trả lời đầy đủ phiếu trả lời.

- Bệnh nhân đã và đang chỉnh hình răng.

- Bệnh nhân có răng 7 đã nhổ hoặc bị vỡ mặt xa, RKHD sâu vỡ lớn hoặc còn chân răng.

- Những RKHD trong quá trình phẫu thuật không đúng phương pháp nghiên cứu.

- Bệnh nhân bị dị ứng với thuốc sử dụng trong và sau phẫu thuật.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

* Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Cỡ mẫu được tính theo công thức: n = Z21-α/2 𝑝(1−𝑝)

𝑑2 . (P=0,964, theo nghiên cứu Ngô Như Hòa (2017) [2]. Tổng số là 54 trường hợp được đưa vào nghiên cứu. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

* Nội dung nghiên cứu: Ghi nhận - Đặc điểm của mẫu nghiên cứu.

- Đặc điểm lâm sàng, X-quang của RKHD mọc lệch ở bệnh nhân được phẫu thuật.

- Đánh giá kết quả trong và sau phẫu thuật RKHD vào ngày 1, 3, 7 sau phẫu thuật (SPT).

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Trong 54 trường hợp tham gia, tỷ lệ nam và nữ lần lượt là 61,1 % và 38,9 %, nhóm tuổi nhỏ hơn 25 là (90,7%). Tất cả bệnh nhân có trình độ Cao đẳng/Trung học/Đại học. Phần lớn bệnh nhân đến vì lý do nhổ răng dự phòng và đau nhức răng.

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của răng khôn hàm dưới được phẫu thuật

RKHD được phẫu thuật bằng phương pháp cắt dọc thân răng có hàm bên trái bằng bên phải là (50%). Răng xuất hiện một phần chiếm tỉ lệ cao, tỉ lệ này là 81,5% ở phân hàm trái, 74,1% ở phân hàm phải.

(3)

3.2.1. Biến chứng mọc răng khôn hàm dưới Bảng 1. Biến chứng mọc răng khôn hàm dưới

Răng 38 Răng 48 Tổng

n % n % N %

Không có 7 25,9 6 22,2 13 24,1

Viêm mô tế bào 1 3,7 0 0 1 1,9

Viêm quanh thân răng, viêm lợi trùm hoặc viêm loét

niêm mạc 7 25,9 9 33,3 16 29,6

Sâu mặt xa răng 7

hoặc/và sâu mặt nhai RKHD 12 44,5 12 44,5 24 44,4

Khít hàm 0 0 0 0 0 0

Tiêu xương tạo nang 0 0 0 0 0 0

Khác 0 0 0 0 0 0

Tổng 27 100 27 100 54 100

Nhận xét: Biến chứng sâu mặt xa răng 7 hoặc/và sâu mặt nhai RKHD là biến chứng thường gặp nhất (44,4%). Tiếp theo là nhóm biến chứng viêm quanh thân răng, viêm lợi trùm hoặc viêm loét niêm mạc chiếm 29, 6%.

3.2.2. Mức độ lệch gần trục RKHD

Bảng 2. Tỉ lệ (%) phân loại răng khôn hàm dưới theo Pell, Gregory

Phân hàm Phân loại Tổng

IA IIA IB IIB

R38 n 5 17 1 4 27

% 18,5 63 3,7 14,8 100

R48 n 3 17 1 6 27

% 11,1 63 3,7 22,2 100

Tổng n 8 34 2 10 54

% 14,8 63 3,7 18,5 100

Nhận xét: RKHD có phân loại IIA chiếm nhiều nhất 63%, tiếp theo là phân loại IIB 18,5%, sau là phân loại IA và phân loại IB. Không có răng ở vị trí phân loại IC, IIC. Khác biệt giữa hai phân hàm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

3.2.3. Mối liên quan giữa răng khôn hàm dưới và ống răng dưới theo Monaco Bảng 3. Tỷ lệ (%) mối liên quan giữa răng khôn hàm dưới và ống răng dưới

Mối liên quan R38 R48 Tổng

n % n % n %

Đường thấu quang đi ngang chân rang 2 18,2 3 16,7 5 17,2

Chân răng bị tối và phân đôi 1 9,1 0 0 1 3,4

Gián đoạn ORD 7 63,6 12 66,7 19 65,7

Chệch hướng ORD 0 0 1 5,5 1 3,4

Hẹp ORD 1 9,1 2 11,1 3 10,3

Tổng 11 100 18 100 29 100

Trong 29 trường hợp có mối liên quan với ống răng dưới. Trong đó gián đoạn ống răng dưới, đứt đoạn đường trắng có (63,6% ở phân hàm trái và 66,7% ở phân hàm phải).

3.3. Kết quả phẫu thuật

3.3.1. Biến chứng trong khi phẫu thuật và thời gian phẫu thuật

(4)

Ghi nhận có 9,3% trường hợp bị gãy chóp trong khi phẫu thuật (3 răng 38 và 2 răng 48) và đã được lấy ra hoàn toàn. Các biến chứng khác như gãy mặt trong xương ổ răng 8, chấn thương răng 7 không xảy ra.

Thời gian phẫu thuật trung bình là 20 phút 57 giây±6 phút 50 giây.

3.3.2. Biến chứng sau khi phẫu thuật

Theo bảng 4, có sưng mặt theo chiều ngang ở ngày 1 và ngày 3 sau phẫu thuật, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001), ngày 1 có mức độ sưng nhiều nhất. Tình trạng sưng giảm dần, hầu như trở lại bình thường vào ngày cắt chỉ.

Bảng 4. Mức độ sưng mặt sau phẫu thuật theo chiều ngang

Ngày

Mức độ sưng mặt theo chiều ngang

Độ sưng mặt Sự thay đổi mức độ sưng p*

AC AD AC AD AC AD

0 113,2 ±0,6 151,7 ±0,7

1 115,5±0,6 153,9±0,8 2,3±0,2 2,3±0,1 0,000 0,000

3 114,7±0,6 152,8±0,8 1,5±0,2 1,2±0,1 0,000 0,000

Cắt chỉ 113,9±0,6 151,9±0,8 0,7±0,3 0,3±0,1 0,010 0,005

p*: Kiểm định One-way Repeated- Measures ANOVA

AC: Khoảng cách từ chân dái tai đến khóe miệng. AD: Khoảng cách từ chân dái tai đến đỉnh cằm.

Bảng 5. Mức độ sưng mặt sau phẫu thuật theo chiều dọc (BE)

Ngày

Mức độ sưng mặt theo chiều dọc

Độ sưng mặt Sự thay đổi mức độ sưng p*

0 107,1±1,0

1 109,0±0,9 1,9±0,2 0,000

3 108,3±0,9 1,2±0,2 0,000

Cắt chỉ 107,3±0,9 0,2±0,1 0,040

p*: Kiểm định One-way Repeated-Measures ANOVA

Chúng tôi ghi nhận có sự thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều dọc vào ngày 1 và ngày 3 sau phẫu thuật, có ý nghĩa thống kê, (p<0,001). Tình trạng sưng giảm dần, hầu như trở lại bình thường vào ngày cắt chỉ.

3.3.3. Tình trạng đau sau phẫu thuật

Theo thang VAS (Visual Analog Scale), ngày 1 sau phẫu thuật, mức độ 4 (đau nhiều) và 2 (đau ít) nhiều nhất, lần lượt là 29,6% và 22,2%, có 1 trường hợp không đau và 2 trường hợp mức độ 8 (rất đau). Vào ngày 3 sau phẫu thuật, mức độ 1 và 2 chiếm nhiều nhất với tỉ lệ lần lượt là 38,9% và 25,9%. Vào ngày 7 có 85,2% trường hợp hết đau, còn lại cảm giác đau nhẹ.

(5)

Biểu đồ 1. Tỷ lệ mức độ đau sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới theo thang NSR-11 Quy đổi qua thang NSR-11, vào ngày 1 sau phẫu thuật, mức độ đau ít chiếm nhiều nhất (50%), đau nhiều chiếm 38,9%. Vào ngày 3 hậu phẫu, mức độ đau ít chiếm 70,4%, tiếp theo là không đau 24,1%. Vào ngày cắt chỉ có 85,2% trường hợp hết đau.

3.3.4. Độ há miệng sau phẫu thuật

Bảng 6. Độ há miệng sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới Ngày

Độ há miệng sau phẫu thuật

p* Khít hàm sau phẫu thuật Độ há miệng Sự thay đổi độ há miệng

0 48,19 ±0,63

1 44,02±1,18 4,18±1,07 0,000 3,7%

3 46,36±0,87 1,83±0,62 0,005 0%

Cắt chỉ 48,01±0,62 0,18±0,14 0,203 0%

p*: Kiểm định One-way Repeated-Measures ANOVA

Có 3,7% có tình trạng khít hàm vào ngày 1, ngày 3 và 7 không còn khít hàm; có sự giảm độ há miệng giữa ngày 1 hậu phẫu với trước phẫu thuật có ý nghĩa thống kê, P<0,001. Ngày 3 và ngày 7 sau phẫu thuật so với trước phẫu thuật giảm không có ý nghĩa thống kê (p>0,001) (Bảng 6)

IV. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu, bệnh nhân thuộc nhóm tuổi nhỏ hơn 25 tuổi cao nhất là 90,7%, tương tự kết quả của tác giả Phạm Hồng Loan (2014) [6], Nguyễn Hữu Quý (2015) [7], Ngô Như Hòa (2017) [2], do đối tượng tham gia vào nghiên cứu phần lớn là sinh viên của trường. Theo Mai Đình Hưng (1998) phẫu thuật RKHD trước tuổi 25 có nhiều thuận lợi, ít biến chứng vì xương ổ răng ít rắn chắc, khoảng nha chu còn rộng, quá trình hậu phẫu thuận lợi [3]. Lý do đến khám chiếm tỉ lệ nhổ răng dự phòng (50%) và đau nhức (40,7%). Do đối tượng tham gia của chúng tôi 100% là trung cấp/ cao đẳng/ đại học nên họ có sự quan tâm đến sức khỏe răng miệng, thường xuyên khám răng định kì. Mọi người cũng ý thức được những ảnh hưởng có thể xảy ra do biến chứng mọc răng khôn hàm dưới nên quyết định điều trị sớm và phẫu thuật RKHD dự phòng.

` 4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của răng khôn hàm dưới

Tỷ lệ RKHD lệch gần ở bên trái bằng ở bên phải (mỗi bên là 50%), giống với nghiên cứu

0 0 5,5 0

50

Không đau Đau ít Đau nhiều Rất đau 9,2

(6)

của Phạm Hồng Loan (2014) [6].

Sâu mặt xa răng 7 hoặc/và sâu mặt nhai răng 8 là biến chứng thường gặp nhất (44, 4%) tiếp đến là biến chứng viêm quanh thân răng, viêm lợi trùm, viêm loét niêm mạc chiếm 29,6%. Kết quả này không có nhiều khác biệt với nghiên cứu của Lê Nguyên Bá (2011) ghi nhận có 35%

trường hợp RKHD lệch gây sâu mặt xa răng 7,27% có sâu RKHD [1]. Nghiên cứu của Lê Ngọc Thanh (2005) cũng ghi nhận biến chứng của RKHD lệch gây viêm quanh thân răng là 20,5 % [8].

Nghiên cứu ghi nhận răng có phân loại IIA chiếm tỉ lệ cao nhất (63%) và sự khác biệt giữa hai phân hàm trái phải không có ý nghĩa thống kê. Tiếp đến là IIB (18,5%), loại IA (14,8%), loại IB (3,7%).

Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Ngô Như Hòa [2].

Chúng tôi ghi nhận 29 RKHD có mối liên quan với ống răng dưới, tỉ lệ gián đoạn ống răng dưới, đứt đoạn đường trắng (63,6% ở phân hàm trái và 66,7% ở phân hàm phải). Theo Deshpande (2013), dấu hiệu gián đoạn ống răng dưới và đứt đoạn đường trắng là đáng tin cậy nhất vì sự tương đồng cao so với CT Conebeam và trên lâm sàng [13].

4.3. Kết quả phẫu thuật

Trong quá trình phẫu thuật, có 5 trường hợp bị gãy chóp chân răng (9,3%), đã được lấy ra hoàn toàn. Thời gian phẫu thuật trung bình là 20,57±6,50 phút, khác biệt với nghiên cứu của Lê Nguyên Bá (2011) [1] có 93% trường hợp có thời gian phẫu thuật 30-60 phút. Thời gian phẫu thuật phụ thuộc vào số lượng các yếu tố gây khó cho phẫu thuật, kinh nghiệm phẫu thuật viên, máy móc, phương tiện và phương pháp phẫu thuật.

Đo mức độ sưng mặt theo chiều ngang bằng hai đường, ghi nhận có sự sưng mặt ở ngày 1 và ngày 3, trong đó độ sưng mặt ở ngày 3 giảm so với ngày 1. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Ngô Như Hòa (2017) [2], tuy nhiên về mức độ sưng nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn.

Điều này có thể giải thích do ở nghiên cứu của chúng tôi, bác sĩ thực hiện việc áp dụng phương pháp chia dọc thân răng ở RKHD và bệnh nhân có ý thức chăm sóc hậu phẫu tốt, làm theo lời dặn và uống thuốc đúng theo toa.

Đau nhiều nhất xảy ra vào ngày thứ nhất sau phẫu thuật (98,1%), cường độ đau nhiều nhất tập trung ở mức đau nhẹ (50% ở ngày 1 và 70,4 % ở ngày 3 sau phẫu thuật). Ở ngày 1 sau phẫu thuật, mức độ đau của nam giới tập trung ở đau ít (1-3), trong khi nữ giới mức độ đau tập trung ở đau vừa (4-6), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Santana- Santos (2012) [15].

Nguyên nhân có thể do nữ giới có mật độ xương hàm dưới thấp hơn và nhạy cảm với đau hơn so với nam giới [15].

Chúng tôi ghi nhận có (3,7%) chảy máu kéo dài dù các bệnh nhân có tình trạng sức khỏe tốt, không có bệnh về đông cầm máu, không sử dụng bất kì loại thuốc khác. Thời gian chảy máu sau nhổ răng thay đổi tùy thuộc vào mức độ tạo vạt gây tổn thương mô mềm, cắt xương bộc lộ răng và quá trình đông máu của mỗi cá thể.

Có 3,7% có biến chứng khít hàm vào ngày 1 sau phẫu thuật RKHD. Kết quả này gần tương đồng với nghiên cứu của Lê Nguyên Bá (2011) [1] ghi nhận 5% bệnh nhân bị khít hàm tạm thời và nhỏ hơn so với nghiên cứu của Ngô Như Hòa (2017) [2] có 18,2%. Do thời gian phẫu thuật của chúng tôi ngắn hơn vì tác giả Lê Nguyên Bá ghi nhận những trường hợp khít hàm đều thuộc nhóm có thời gian phẫu thuật kéo dài trên 60 phút.

V. KẾT LUẬN

5.1. Đặc điểm lâm sàng, X quang

- 44,4% có tình trạng sâu mặt xa răng 7 hoặc/và mặt nhai RKHD, 29, 6% có biến chứng viêm quanh thân răng, viêm lợi trùm hoặc viêm loét niêm mạc.

(7)

- 63% loại IIA và 18,5% loại IIB.

- Có 44,4% chân RKHD có liên hệ với ống răng dưới, trong đó có 65,7 % gián đoạn ống răng dưới hoặc đứt đoạn đường trắng, (phân hàm trái 63,6% và phân hàm phải 66,7%).

5.2. Kết quả phẫu thuật

- Mức độ sưng mặt theo chiều ngang (AC) và chiều dọc (BE) ở ngày 1 sau phẫu thuật lớn hơn so với trước phẫu thuật lần lượt là 2,3±0,2 (mm), 1,9±0,2 (mm), tại ngày 3 sau phẫu thuật là 1,5±0,2 (mm) và 1,2±0,2 (mm). Sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê.

- Ngày 1 sau phẫu thuật, 98,1 % có cảm giác đau. Mức độ đau giảm dần, ngày cắt chỉ có 85,2 % bệnh nhân hết đau.

- 3,7 % trường hợp có tình trạng chảy máu kéo dài vá khít hàm tạm thời.

- Không ghi nhận có tình trạng dị cảm, viêm ổ răng sau phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Nguyên Bá (2011), Đặc điểm lâm sàng và điều trị nhổ răng khôn hàm dưới tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, luận án chuyên khoa cấp II Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

2. Ngô Như Hòa (2017), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mối liên quan của răng khôn với các cấu trúc giải phẫu lân cận trên phim toàn cảnh ở bệnh nhân tại bệnh viện trường Đại học y dược Cần Thơ, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Răng hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, TP. Cần Thơ.

3. Mai Đình Hưng, Phạm Thị Tuyết Nga, Trần Ngọc Thành (2006), Bài giảng răng hàm mặt, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 36-45.

4. Lê Đức Lánh (2016), Phẫu thuật miệng - Gây tê nhổ răng, tập 1, NXB Y học, TP. Hồ Chí Minh, tr. 119-197.

5. Lê Đức Lánh (2016), Phẫu thuật miệng - Phẫu thuật trong miệng, tập 2, NXB Y học, TP. Hồ Chí Minh, tr. 119-137.

6. Phạm Hồng Loan (2014), Khảo sát mối liên quan giữa tư thế răng và biến chứng ở bệnh nhân nhổ răng khôn hàm dưới tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, TP. Cần Thơ.

7. Nguyễn Hữu Quí (2015), Khảo sát triệu chứng, biến chứng sau phẫu thuật răng khôn hàm dưới ở bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, TP. Cần Thơ.

8. Lê Ngọc Thanh (2005), Nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang và đánh giá kết quả phẫu thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch, mọc ngầm, Luận văn Thạc sỹ y học, Trường Đại học Y dược Hà Nội, Hà Nội.

9. Phan Thành Tường (2006), "Nhận xét lâm sàng, X-quang và kết quả phẫu thuật răng khôn hàm dưới lệch", Luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II, trường Đại học Y Dược Hà Nội.

10. A.R.Loescher, K.G.Smith, P.P.Robinson (2003), Nerve Damage and Third Molar Removal, Oral Surgery 2003, pp 375

11. Fragiskos, D. Fragiskos (2007), “Oral surgery”, Springer Berlin Heidelberd New York, chapter 7. pp.121-145, 134-254.

12. Peterson, L.J (1998), “Principles of management if impacted teeth in contemporary”, Oral and Maxillofacial Surgery, 3nd, St. Louis: Mosby Year Book.

13. Prasannasrinivas Despande (2013), “Proximity of impacted mandibular third molars to the inferior alveolar canal and its radiographic predictors a panoramic radiographic study”, J Maxilofacial Oral Surgery, 12(2):145-5.

14. Thomas P.Osborn, Geogre Frederickson, Irwin A.Small, Thomas S.Torgerson (1985),

“Aprospective Study of Complications Related to Mandibular Third Molar Surgery”, Journal Oral Maxillofacial Surgery; 43; 767- 769.

(8)

15. Thiago de Santana-Santos et al. (2012), “Prediction of posterative facial swelling, pain and trismus following third molar surgery based on preoperative variables”. Med Oral Patol Oral Cir Bucal, 18(1), p65-70.

(Ngày nhận bài: 07/10/2018- Ngày duyệt đăng: 12/12/2018)

Referensi

Dokumen terkait