• Tidak ada hasil yang ditemukan

các nhóm danh lượng từ tiếng hán và nghĩa của chúng

N/A
N/A
Protected

Academic year: 2024

Membagikan "các nhóm danh lượng từ tiếng hán và nghĩa của chúng"

Copied!
4
0
0

Teks penuh

(1)

NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 10 (228)-2014 26

5. 李晓琪,现代汉语虚词讲义,北京大 学出版社,2005.

6. 周小兵,越南人学习汉语语法点难度 考察,2007.

7. 蔡颖,“正”、“正在”和“在”的用法比较

,2011.

8. 周玲玄,越南学生汉语程度副词习得 研究,2009.

(Ban Biªn tËp nhËn bµi ngµy 23-08-2014)

CÁC NHÓM DANH LƯỢNG TỪ TIẾNG HÁN VÀ NGHĨA CỦA CHÚNG

GROUPS OF CHINESE NOMINAL CLASSIFIERS AND THEIR MEANINGS

NGUYỄN HỒNG NAM (ThS; Đại học Sư phạm TP HCM)

Abstract: The term “classifier” or “measure ord” is a part of speech, hich is classified and named after examining 11 Chinese basic word classes. The study into various types of meanings of nominal classifiers has an important role in the research of Chinese grammar. It characterizes a particular feature of Chinese grammar and is a very useful tool for building the general grammatical system of this language. This article aims to collect, classify and analyze the meaning feature of each type of Chinese nominal classifiers.

Key words: nominal classifier; types of nominal classifiers; meanings of nominal classifiers.

1. Mở đầu

Lượng từ trong tiếng Hán là loại từ mà trong các ngôn ngữ Ấn Âu không có. Lượng từ không giống với bất kì loại từ nào. Lượng từ là một loại từ độc lập, thuộc về phạm trù ngữ pháp riêng biệt. Nếu tiến hành phân loại lượng từ theo góc độ ngữ pháp truyền thống thì đây là một phương pháp mang tính độc lập và tĩnh. Nhưng, nếu kết hợp giữ ngữ pháp và ngữ nghĩa để nghiên cứu lượng từ (cụ thể là sự kết hợp giữa lượng từ với danh từ) sẽ là đem lại hiệu quả, bởi đây là phương pháp có tính liên hệ và động.

Lượng từ tiếng Hán là một hệ thống mở, các danh từ, động từ có ý nghĩa thực đều có thể sử dụng làm lượng từ lâm thời. La Nhật Tân dựa trên mối quan hệ giữa danh từ và lượng từ để chia danh lượng từ làm 3 loại: 1/ lượng từ dựa vào hình sợi của sự vật; 2/ lượng từ dựa trên hình tấm (miếng) của sự vật và 3/ lượng từ dựa trên hình tròn của sự vật. Trần Ngọc Đông căn cứ vào ý nghĩa từ vựng của lượng từ để chia làm 4 loại: 1/ lượng từ dựa trên hình dáng; 2/ lượng từ dựa trên động thái; 3/ lượng từ vay mượn; 4/

lượng từ đặc định. Thiệu Kính Mẫn dựa vào

việc quan sát góc độ sự vật đã phân lượng từ ra làm 2 loại: lượng từ đặc trưng loại hình và lượng từ phi đặc trưng ngoại hình. Trên cơ sở phân loại của 3 học giả trên, chúng tôi xuất phát từ quan điểm động, tiến hành phân loại danh lượng từ từ góc độ ngữ nghĩa - ngữ pháp.

2. Các nhóm lượng từ

2.1. Các đơn vị có hình dáng tương tự Có những loại lượng từ khác nhau, nhưng thực chất thì đây chỉ là kết quả mà con người thu được thông qua sự quan sát bằng các phương thức khác nhau ở các góc độ khác nhau. Các sự vật tuy có rất nhiều sự khác biệt, nhưng giữa chúng vẫn tồn tại một điểm giống nhau khách quan và mối quan hệ tương đồng này thể hiện ở mặt ngữ nghĩa. Ví dụ:

Trường hợp các lượng từ “diệp, câu, tuyến, phong, châm” trong nhất diệp khinh chu (một chiếc thuyền con), “nhất câu minh nguyệt(một mảnh trăng sáng), nhất tuyến thiên (một vệt trời), nhất phong lạc đà (một con lạc đà), nhất châm lục thảo

(một ngọn cỏ xanh).

(2)

Số 10 (228)-2014 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 27

Khi loại lượng từ này kết hợp với danh từ thì chủ yếu làm nổi bật tính miêu tả, mô phỏng, so sánh. Phương pháp mô tả hình tượng khi tiến hành phân loại lượng từ dựa trên các hình thể chính là hạt (điểm); sợi (tuyến); tấm, miếng (diện).

Hình hạt: điểm, lạp, khỏa, trích, hoàn, tinh v.v...

Hình sợi: tuyến, điều, ti, can, chi, đoạn, cổ, chi, căn, kinh, chu, đạo, hàng, lũ, trụ, trục, liễu, can v.v..

Hình tấm: diện, phiến, bức, tầng, phương, trùng v.v..

Hình viên: khối, đoàn v.v..

Ngoài ra còn có các loại hình thể như hình dáng của miệng, hình dáng của mắt, hình dáng bánh xe, hình vòng, hình đoá, hình bong bóng, hình quạt v.v...những loại lượng từ này hầu hết đều được chuyển hoá từ danh từ và động từ mà ra. Các lượng từ này về căn bản đều có mối liên hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa. Chẳng hạn, khi miêu tả mặt trăng ta có cả một nhóm từ như

nhất bàn viên nguyệt”, “nhất câu nguyệt nha”, “nhất kính minh nguyệt”, “nhất hoàn lãng nguyệt”, “nhất mai tân nguyệt”, “nhất luân minh nguyệt v.v..

2.2. Các loại đơn vị có liên quan với nhau a) Danh lượng từ có tính trạng thái của động từ: Một số danh lượng từ về mặt ngữ nghĩa biểu hiện mối quan hệ của sự vật với động từ, nhằm nhấn mạnh tính tương quan của hành vi với ngoại hình của sự vật, đặc biệt là kết quả trạng thái do động tác này tạo ra.Ví dụ:

xuyến (xâu, chuỗi), đôi (đống, đám), điệp (lớp), quải (chuỗi, tràng, cỗ, bánh), đảm (gánh), phong (lá), khiêu (gánh), tiệt (đoạn gỗ), mạt (ráng mây), bài (loạt, băng, dãy), đổ (bức tường), bả (cái, con, chiếc: dùng cho vật có tay cầm, có cán), khổn (bó củi), phong (phong thư), thúc (bó hoa), than (vũng bùn), bao (gói, bọc), bào (một ôm cỏ), loa (chồng, xếp), trương (tấm, tờ bức:

dùng cho da, giấy), (sợi), toát (nhúm, nhóm), bổng (vốc, bốc, nắm), quyển (cuộn), khúc (khúc nhạc) v.v..

Loại lượng từ này hầu hết đều từ động từ chuyển thành. Mặc dù có một số sự vật có liên quan trực tiếp với động từ nhưng vì chúng có hình dáng gần giống nên có thể sử dụng động từ làm lượng từ cho chúng. Ví dụ trong tiếng Việt:

một xâu ngọc trai, một xâu chìa khóa, một chùm nho.

Danh lượng từ vay mượn: có một số sự vật có hình dáng rất khó miêu tả hoặc do ngoại hình của của chúng không rõ ràng, vì vậy phải lợi dụng mối quan hệ giữa danh từ và lượng từ để tìm ra một số từ ngữ đặc trưng về ngữ nghĩa để thay thế làm lượng từ. Sự thay thế này thực ra là sự vận dụng thủ thuật tu từ vay mượn. Loại lượng từ này có 4 loại:

1) Lượng từ căn cứ vào những sự vật có các bộ phận thay thế được để biểu thị ý nghĩa chỉnh thể. Ví dụ: nhất khẩu trư (một con lợn), nhất đầu ngưu (một con trâu), nhấtngư (một con cá), nhất cản thương (một cây súng), nhất bả thái đao (một con dao thái rau), nhất đỉnh văn trướng (một cái mùng) .

2) Lượng từ biểu thị một mối quan hệ tất nhiên giữa chúng với các loại công cụ, thời gian, nơi chốn có liên quan sự vật hoặc động tác. Ví dụ:

Công cụ: Nhất đao chỉ (một xấp giấy); Nhất mạc hí (một màn kịch); Nhất uyển phạn (một bát cơm); Nơi chốn : Nhất sàng bị (một chiếc chăn); Nhất bồn hoa (một chậu hoa); Nhất trác thái (một mâm thức ăn)

Thời gian: Nhất nhiệm huyện trưởng (một nhiệm kì huyện trưởng); Tam giới học sinh (3 khóa sinh viên, sinh viên của 3 khóa).

3) Lượng từ vay mượn từ các danh từ biểu thị dụng cụ dùng để chứa đựng đồ vật (lượng từ dung tích). Ví dụ: thuyền, xe, phi cơ, phòng, lầu, sảnh, đại (túi), đồng (ống), bồn (chậu), uyển (bát), chung (cốc, li), trản (cái, chiếc, ngọn đèn), đồng (thùng), bình, đâu (túi), chủy (thìa, muỗng), khuông (sọt, giỏ, rổ), oa (nồi), lam (làn, lẵng), trừu thế (ngăn kéo), quỹ từ (tủ), thược (thìa, muôi),...

(3)

NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG Số 10 (228)-2014 28

4) Lượng từ vay mượn từ các danh từ biểu thị nơi chốn: Loại lượng từ này khi kết hợp với danh từ thì giữa chúng tồn tại một mối quan hệ nội tại. Ví dụ: nhất liễm can thủy (một gương mặt đầy mồ hôi), nhất đầu vụ thủy (một mái đầu đầy sương), nhất khẩu bạch nha (một cái miệng toàn răng trắng), nhất thủ nê ba (đầy tay dính bùn), nhất cước đích khôi trần (cả chân đầy bụi), nhất thân chính khí (toàn thân toát ra chính nghĩa), nhất liễm đích hạnh phúc (một gương mặt đầy hạnh phúc), nhất quần tử tang thủy (cả váy lấm bẩn).

Loại lượng từ này cũng có tính mở rộng, hơn nữa giữa số lượng từ và danh từ có thể thêm trợ từ kết cấu vào.

2.3. Lượng từ đặc định

Đây là loại lượng từ chủ yếu dùng cho những đối tượng chuyên môn hoặc được sử dụng thường xuyên, có hai loại lượng từ đặc định.

a) Lượng từ đo lường: chủ yếu do chính phủ ban hành hoặc đoàn thể xã hội thường xuyên sử dụng mà ra, nó có ngữ nghĩa riêng biệt. Ví dụ: cân, lượng, đốn (tấn), mễ (mét)

b) Lượng từ chuyên dùng cho các đối tượng riêng biệt: chủ yếu căn cứ vào danh từ hoặc một số ít động từ.

Dùng cho người hoặc vật: (cái, con, chiếc, người), vị, danh, viên, quần (đán, bầy), lõa (nhóm, bọn, băng), bang (tốp, bọn), tổ (lứa).

Dùng cho sự việc: kiện, hạng, trang, khởi (kiện, cái, vụ, tốp, bầy, loạt), tông (mớ, khoản, bầu).

Dùng cho gia đình: thế, đại (đời), bối, môn, gia, hộ.

Dùng cho chủng loại: chủng, loại, dáng, mã, hiệu.

Dùng cho đẳng cấp: đẳng, cấp, tầng, lưu (loại), phẩm.

Đối với việc chọn dùng danh lượng từ cân nhắc đến nhiều yếu tố, trong đó cân nhắc các yếu tố ngữ cảnh, chọn ra một từ phù hợp với yêu cầu ngữ cảnh và vận dụng. Tùy theo ngữ cảnh mà có thể là “một đối một” hoặc “một đối

nhiều”. Việc dùng “chính xác” danh lượng từ là cơ bản và dùng “thích hợp” là quan trọng.

3. Kết luận

Nhìn chung, ngoài ngữ pháp, việc xác định danh lượng từ của tiếng Hán cần dựa vào ngữ nghĩa. Về ngữ nghĩa lớp từ này phân biệt với các lớp từ chỉ sự vật khác bằng những nét đặc trưng riêng về ý nghĩa: chỉ chủng loại khái quát của sự vật với một số đặc điểm về hình thể, cấu tạo tính chất của sự vật. Mỗi từ đều có những nghĩa mang tính đặc thù của mỗi loại vật thể và khi đứng một mình hoặc khi kết hợp với danh từ đứng sau, chúng vẫn có khả năng diễn đạt đầy đủ những nghĩa vốn có của bản thân. Để có thể vận dụng chính xác các lượng từ đã học, đặc biệt là các danh lượng từ, cần phải nắm được những quy tắc ngữ pháp về sự kết hợp của loại từ, đồng thời phải có những ngữ cảnh cụ thể và tiến hành giải thích từ góc độ ngữ dụng và ngữ nghĩa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. La Nhật Tân (1998), Từ những điểm tương đồng với lượng từ trong mối quan hệ kết hợp của danh lượng từ hoặc động lượng từ.

Học báo Đại học sư phạm Liêu Ninh, kì 2 bản 2 năm 1998. 《从名(或动)量的搭配关系像 量词特点》

2. Trần Ngọc Đông (1998), Đặc điểm ngữ nghĩa của lượng từ đời Tùy Đường và Ngũ đại;

Nghiên cứu Hán ngữ cổ. Xuất bản năm 1998 《 隋唐五代量词的语义特征》,《古汉语研究

》.

3. Thiệu Kính Mẫn (1993), Phân tích ngữ nghĩa của lượng từ và sự lựa chọn hai chiều của nó với danh từ. Ngữ văn Trung Quốc, kì số 3 năm 1993.《量词的语义分析及其与名词的 双向选择》

4. Vương Hy Kiệt: Số từ - lượng từ - đại từ, NXB Giáo dục nhân dân 1990《数词.量词.代 词》

5. Lục tông Đạt - Du Mẫn: Ngữ pháp hán ngữ hiện đại, Quyển thượng tr 53, 54. NXB Quần Chúng 1954《现代汉语语法》

(4)

Số 10 (228)-2014 NGÔN NGỮ & ĐỜI SỐNG 29

6. Lữ Thục Tương: Một số vấn đề mang tính nguyên tắc liên quan đến từ loại trong Hán ngữ. Vấn đề từ loại trong Hán ngữ. NXB Trung

hoa thư cục 1955《关于汉语词类的一些原

则性问题》,《汉语的词类问题》.

(Ban Biªn tËp nhËn bµi ngµy 23-08-2014)

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGHE TIẾNG TRUNG QUỐC

INNOVATION IN ASSESSMENT AND TESTING METHODS FOR LISTENING SKILL CHINESE

TRẦN KHAI XUÂN

(ThS; Đại học Sư phạm TP HCM)

Abstract: Article raised significant role of innovation test methods and evaluation. Then it presented the writer's own experience and results archieved in the innovation procers in the assessment and testing methods for listening skill in Chinese language.

Key words: innovative; assessment; methods in Chinese Listening.

1. Đặt vấn đề

1.1. Việc kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của sinh viên có vai trò rất quan trọng, nó vừa giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình dạy học, nó lại vừa có vai trò bánh lái, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy và giúp sinh viên thay đổi phương pháp học tập, phù hợp với hình thức, phương pháp kiểm tra nhằm đạt kết quả cao. Để nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, cùng với việc đổi mới, hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo thì cần phải đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Vậy, thế nào là đổi mới kiểm tra, đánh giá? Kiểm tra đánh giá như thế nào để nâng cao hiệu quả giảng dạy, bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục?

Thứ nhất, kiểm tra là khâu cuối cùng, đồng thời cũng là khâu mở đầu cho một chu trình tiếp theo của quá trình dạy học. Ở khâu cuối cùng, kiểm tra giúp giáo viên đánh giá được chất lượng học tập của sinh viên đồng thời cũng giúp giáo viên tự đánh giá việc giảng dạy của mình. Ở khâu tiếp theo (tức là trước khi vào bài mới), kiểm tra giúp sinh viên liên kết mạch kiến thức, dựa trên kiến thức cũ để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức mới.

Thứ hai, kiểm tra, đánh giá giúp giáo viên hiểu rõ việc học tập của sinh viên, phát hiện những thiếu sót trong kiến thức, kĩ năng để kịp thời sửa chữa.

Thứ ba, kiểm tra đánh giá giúp sinh viên hình thành và rèn luyện những kĩ năng trong học tập và cuộc sống như nói, viết, cách trình bày một vấn đề khúc triết, rõ ràng.

Thứ tư, kiểm tra, đánh giá sẽ hình thành cho sinh viên ý chí quyết tâm đạt kết quả cao trong học tập.

1.2. Kiểm tra, đánh giá là hai khâu có quan hệ mật thiết trong một hoạt động dạy học. Khâu kiểm tra được tiến hành trước. Nó bao gồm các hoạt động: ra đề, sinh viên thực hiện, giáo viên theo dõi, giám sát. Khâu đánh giá được tiến hành ngay sau đó. Yêu cầu của hoạt động này là phải đi liền với kiểm tra. Đánh giá có vai trò quan trọng, giúp sinh viên xác định được kết quả học tập của bản thân, phát huy những mặt mạnh, khắc phục những điểm yếu của mình trong học tập. Đối với giáo viên, việc đánh giá chính xác sẽ giúp điều chỉnh nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học… Nếu kiểm tra mà không đánh giá sẽ gây ra những hậu bất ổn hại cho quá trình dạy, học nhất là phản ứng của sinh viên.

Xuất phát từ thực tế giảng dạy và kinh nghiệm bản thân, trong bài này chúng tôi xin nêu ra vai trò, ý nghĩa của việc kiểm tra đánh giá từ đó đề xuất đổi mới phương pháp ra đề thi môn Nghe tiếng Trung Quốc.

2. Đổi mới kiểm tra đánh giá trong môn Nghe tiếng Trung Quốc

Referensi

Dokumen terkait

Từ các ý kiến của Nguyễn Văn Khang: “… bất kì từ Hán Việt nào cũng tham gia vào quá trình đồng hoá ngữ nghĩa theo hướng: 1/giữ nguyên nghĩa bảo lưu ngữ nghĩa và 2/thay đổi nghĩa thu

Các thông số lượng tử liên quan đến hoạt động ức chế của các hợp chất nghiên cứu như EHOMO, ELUMO, khoảng cách năng lượng ΔEL-H, độ cứng hóa học η, độ mềm S, ái lực điện tử tuyệt đốiχ,

Tính từ không tồn tại trên thang độ nghĩa, nó chỉ là đặc trưng cho các sự vật, hiện tượng, quá trình, tình trạng, hành động và được mỗi ngôn ngữ hình thái hóa một cách khác nhau trong

Chính vì thế mà từ ngữ thuộc tiểu trường các từ ngữ chỉ sự tự vận động của “nước” được chuyển nghĩa để diễn tả các vận động và trạng thái bên ngoài cũng như tâm lí bên trong của con

Cách thức xưng hô bằng các danh từ chỉ chức nghiệp trong tiếng Thái Bên cạnh một số lượng tương đối lớn các danh từ chỉ quan hệ gia đình, thân tộc được sử dụng làm từ xưng hô trong

Marketing có nghĩa là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ với thị trường, là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa

Theo nghĩa học hiện ñại, nghĩa của nhóm ñang bàn, nhìn chung, ñều xoay quanh ba nét nghĩa chính sau ñây: a tâm trạng tiêu cực nảy sinh ở nghiệm thể [NT]; b khi NT phải ñối mặt với ñiều

Kết quả nghiên cứu cho thấy hai yếu tố bao gồm Mối quan hệ trong doanh nghiệp và Phúc lợi có tác động tích cực đến Sự gắn kết của nhân viên, từ đó, một số kiến nghị được đề xuất như