• Tidak ada hasil yang ditemukan

Luận văn Thạc sĩ Luật học Chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam

N/A
N/A
sandi dengan

Academic year: 2023

Membagikan "Luận văn Thạc sĩ Luật học Chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật thương mại Việt Nam"

Copied!
85
0
0

Teks penuh

35 2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật thương mại của Việt Nam về xử phạt vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa. 70 3.2 Giải pháp sửa đổi pháp luật thương mại Việt Nam về xử phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

Vi phạm hợp đồng và các chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa - Vi phạm hợp đồng

Các bên có thể thỏa thuận về mức phạt vi phạm hợp đồng đã ký kết. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại.

Các quy định về miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng Không phải bất cứ hành vi vi phạm nào trong hợp đồng đều phải áp dụng

Trong trường hợp bên vi phạm được miễn trách nhiệm khi hành vi vi phạm của bên đó là do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hình thức phạt hủy bỏ hợp đồng chỉ được áp dụng nếu một bên vi phạm cơ bản hợp đồng.

Chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa 1 Khái niệm chế tài phạt vi phạm

Xử phạt vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 1.2.1 Khái niệm xử phạt vi phạm. Các biện pháp xử phạt vi phạm hợp đồng thường được sử dụng để xử lý vi phạm hợp đồng. Mức phạt vi phạm hợp đồng bị giới hạn bởi pháp luật (các bên có quyền thỏa thuận về mức phạt nhưng không được vượt quá mức phạt theo luật định).

Nếu bên bị vi phạm có thiệt hại thực tế thì mức phạt phải thấp hơn mức thiệt hại thực tế (đây là quy định bất biến, nếu cao hơn thì mức xử phạt này không có hiệu lực). Nếu bên bị thiệt hại có số tiền bồi thường thực tế cao hơn mức phạt đã thoả thuận. Trong thời gian áp dụng các biện pháp xử phạt để cưỡng chế thi hành hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền sử dụng các biện pháp trừng phạt để trừng phạt hành vi vi phạm.

Ngoài ra, phạt vi phạm có thể được áp dụng đồng thời với phạt đền bù.

Chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa .1 Khái niệm chế tài bồi thường thiệt hại

Vì vậy, bồi thường thiệt hại có thể coi là giải pháp chung cho mọi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tất nhiên, hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng không phải là hình thức duy nhất ở Việt Nam mà còn tồn tại ở các hệ thống pháp luật khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng.

Thiệt hại thực tế đối với bên vi phạm là căn cứ bắt buộc để áp dụng hình thức xử phạt bồi thường thiệt hại. Việc vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Ngoài ra, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải thực hiện các biện pháp hợp lý để hạn chế thiệt hại, bao gồm cả việc bị mất lợi nhuận trực tiếp do vi phạm hợp đồng.

Bồi thường ở đây là giá trị thực tế của thiệt hại và lợi ích trực tiếp mà bên bị thiệt hại phải nhận được.

Mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Nếu trong hợp đồng chỉ có thỏa thuận về mức phạt vi phạm mà không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ bị phạt vi phạm. Nếu hợp đồng chỉ thoả thuận bồi thường thiệt hại mà còn thoả thuận phạt vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp hợp đồng có thoả thuận cả về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm phải nộp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về mức phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì bên gây thiệt hại chỉ phải bồi thường thiệt hại. Đây là sự khác biệt rõ ràng trong quy định về xử phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại giữa LTM 2005 và Bộ luật Dân sự 2015. Xử phạt vi phạm và xử phạt bồi thường thiệt hại là hai hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến khi xảy ra hành vi vi phạm.

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LUẬT THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI.

Thực trạng thực hiện pháp luật thương mại Việt Nam về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Theo đó, hình phạt vi phạm phát sinh khi thỏa thuận không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng (Điều 227 LTM 1997). Các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận về điều khoản phạt trong hợp đồng. Nếu các bên không thống nhất và ghi vào hợp đồng thì không áp dụng hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Điều quan trọng cần lưu ý là giới hạn vi phạm 8% áp dụng cho mức phạt tổng hợp đối với nhiều hành vi vi phạm đã được các bên trong hợp đồng thỏa thuận. Đây chỉ là một trong nhiều trường hợp thực tế áp dụng mức phạt vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa đối với đối tượng này. Hơn nữa, việc thỏa thuận mức phạt vi phạm hợp đồng là không phù hợp với tình hình thực tế nhưng không vượt quá 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm.

Lệnh tòa yêu cầu phạt: Không chấp thuận do các bên không thỏa thuận được mức phạt vi phạm hợp đồng.

Thực trạng thực hiện pháp luật thương mại Việt Nam về chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Vi phạm hợp đồng là nguyên nhân gần nhất gây ra thiệt hại. Ngoài ra, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015 còn có quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được việc bồi thường thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp phạt.”

Theo quy định của pháp luật, mức bồi thường là giá trị thực tế của thiệt hại. Vì vậy, rất khó để xác định loại thiệt hại nào bên bị thiệt hại có thể yêu cầu theo quy định này. Nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời thì phải bồi thường thiệt hại [19, tr.62].

Tuy nhiên, Tú Cường đồng ý bồi thường thiệt hại phát sinh trong vòng 3 ngày kể từ ngày ký hợp đồng.

Thực trạng thực hiện pháp luật thương mại Việt Nam về mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

Bồi thường là việc bồi thường những thiệt hại mà bên vi phạm phải gánh chịu. Mục đích của việc bồi thường là bù đắp tổn thất mà bên bị thiệt hại phải gánh chịu. Nếu các bên có thỏa thuận về mức phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền vừa phạt tiền vi phạm vừa có quyền buộc bồi thường.

Theo đó, về nguyên tắc, “trong trường hợp các bên có thỏa thuận xử phạt hành vi vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả hình thức xử phạt vi phạm và cưỡng chế bồi thường thiệt hại”. Điều này có nghĩa là trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu các bên không có thỏa thuận về mức phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đáng chú ý nhất là quy định bồi thường sẽ không được áp dụng khi hợp đồng chỉ có thỏa thuận về mức phạt vi phạm mà không có thỏa thuận về việc bồi thường.

MỘT SỐ HƯỚNG DẪN VÀ GIẢI PHÁP SỬA ĐỔI LUẬT THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT VÀ THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.

Phương hướng sửa đổi pháp luật thương mại Việt Nam về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Với tính năng này, việc bồi thường sẽ chỉ được áp dụng nếu hành vi vi phạm gây ra thiệt hại thực tế. Căn cứ để áp dụng hình thức xử phạt bồi thường thiệt hại là có sự vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và việc vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Việc xác định trạng thái tâm lý, trình độ nhận thức của tổ chức là không chính xác nên lỗi vi phạm hợp đồng là “lỗi suy đoán”.

Bên vi phạm hợp đồng bị coi là có tội trừ khi anh ta chứng minh được rằng mình không có lỗi. Nếu bên vi phạm chứng minh được mình không có lỗi thì được miễn trách nhiệm. Lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 và LTM 1997 đều có quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm khi họ không có lỗi.

Vì vậy, có quan điểm khi yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thương mại không cần thiết phải quyết định xem bên vi phạm có lỗi hay không.

Giải pháp sửa đổi pháp luật thương mại Việt Nam về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Quy định cụ thể, chi tiết mức phạt trong nội dung hợp đồng nhưng phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, khi soạn thảo hợp đồng, không nhất thiết phải đưa vấn đề bồi thường vào nội dung hợp đồng. Bên cạnh những kết quả đạt được, các quy định của Luật Thương mại Việt Nam về xử phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại vẫn còn nhiều hạn chế, khiến doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định.

Việc thỏa thuận đòi hỏi sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về việc áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm là không hợp lý, có xu hướng phát huy quyền tự do ý chí của các bên. Đồng thời, một số kiến ​​nghị cũng được đưa ra nhằm bổ sung, áp dụng các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm và bồi thường trong hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm đạt hiệu quả cao hơn. Thứ nhất, hình phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại được áp dụng rộng rãi.

Nội dung trình bày trên được tác giả trình bày xuất phát từ góc độ lý luận kết hợp với phân tích thực tiễn và cũng chỉ ra những bất cập của pháp luật trong việc quy định xử phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.

Referensi

Dokumen terkait